Ngành công nghiệp logistics Việt Nam thu hút sự chú ý trên toàn cầu

Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam đã tăng gấp 3 lần từ năm 2007, từ 750 đô la Mỹ lên 2.445 đô la Mỹ vào cuối năm 2016, là một lý do lớn giúp nền kinh tế Việt Nam có cơ hội mới.

logistics Việt Nam

Nhu cầu khách hàng ngày càng phát triển đòi hỏi phải phân khúc vận chuyển và logistic lớn hơn và có thể phục vụ tốt hơn nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như mở rộng nhu cầu quốc tế.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao này, Chính phủ Việt Nam đã từng bước mở rộng phân khúc vận tải và logistics với sự tham gia rộng rãi của nước ngoài.

Bắt đầu từ năm 2014, chính phủ đã bãi bỏ các yêu cầu đối với các công ty có giấy phép ở nước ngoài muốn có đối tác liên doanh ở Việt Nam, với một ngoại lệ hạn chế là các dịch vụ vận chuyển container và vận tải đường bộ.

Sự tự do hóa của phân khúc này đã trực tiếp tạo ra dòng chảy ổn định cho các công ty logistics nước ngoài bước vào thị trường nội địa.

Ông Trần Nguyễn Hùng, Cựu Giám đốc điều hành của công ty hậu cần đa ngành hàng không và hàng không quốc tế, chia sẻ với OBG rằng, các công ty nước ngoài đem kỹ năng đến và những công ty quy mô nhỏ tại Việt Nam sẽ phải chú ý và học hỏi từ họ.

Ngày nay, các công ty đa quốc gia nước ngoài hoạt động ở các nước Đông Nam Á đã vươn cánh tay đến hầu hết các công ty Việt Nam nhỏ hơn và kiểm soát khoảng 80% thị phần, ông Hùng nói thêm. Theo báo cáo tháng Tư của công ty tài chính và tư vấn Grant Thornton, chi phí hàng năm của các công ty xuyên quốc gia nước ngoài trong phân khúc này ước tính trung bình khoảng 30 tỷ – 35 tỷ đô la Mỹ trong vài năm qua.

Theo OBG, đến cuối năm 2017, quá trình làm thủ tục hải quan cho hàng nhập khẩu và xuất khẩu có thể giảm xuống còn khoảng 90 và 70 giờ, và thời gian này sẽ giảm thêm 10 giờ vào năm 2020. Hiện nay, theo dữ liệu của Hiệp hội Hậu cần Việt Nam, mất trung bình 138 giờ để làm thủ tục nhập khẩu và 108 giờ để làm thủ tục xuất khẩu.

Theo kế hoạch, những cải tiến này sẽ giúp cho thời gian giải phóng hàng hóa ở Việt Nam gần hơn với các nước trong khu vực, tăng khả năng cạnh tranh, giảm chi phí cho các nhà vận chuyển và các nhà khai thác logistics, và kích thích sự tham gia của các yếu tố nước ngoài.

Dịch vụ logistics tại c với nhiều tiềm năng phát triển

Ngành logistics Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội để phát triển và tham gia sâu vào những trung tâm giao dịch vận tải trên thế giới sau khi gia nhập TPP (Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương). Là thị trường được đánh giá nhiều tiềm năng, logistics Việt Nam là một “miếng bánh ngon” đang chờ khai thác.

Theo dự báo của ngân hàng thế giới (World Bank), từ nay cho đến năm 2020 tốc độ tăng trưởng của Việt Nam là 12% / năm, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mức 623 tỉ USD, đây đang làm điểm đến của rất nhiều nhà đầu tư.

logistics-in-viet-nam-vinalines-logistics-slogan-1024x682
Vinalines Logistics Việt Nam.

Hiện nay, chi phí logistics của Việt Nam cao hơn rất nhiều so với các nước như Mỹ, Trung Quốc hay Thái Lan. Theo một thống kê của VLA (hiệp hội Doanh nghiệp logistics Việt Nam), chi phí logistics của Việt Nam đang chiếm khoảng 25% GDP mỗi năm. Đây được coi là cơ hội lớn cho ngành logistics trong nước “bùng nổ” khi thời gian tới, hoạt động xuất nhập khẩu sẽ phát triển sôi động tại Việt Nam. Trước những thách thức từ hội nhập và yêu cầu thực tế đó, để nâng cao sức cạnh tranh, đòi hỏi các doanh nghiệp logistics phải nâng cao chất lượng dịch vụ.

Hoạt động logistics là một mắt xích quan trọng của nền kinh tế, nó giúp hàng hóa đến được tay người tiêu dùng và đồng thời đảm bảo nguồn nguyên liệu cho quá trình sản xuất. Tuy nhiên, hiện tại hầu như chưa có tiếng nói chung giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các doanh nghiệp logistics trong nước.  Doanh nghiệp logistics Việt Nam đa phần là doanh nghiệp nhỏ, vốn ít và thiếu cơ sở vật chất như kho tàng, bến bãi, công nghệ thông tin, phương tiện vận chuyển,… Năng lực cạnh tranh cũng như hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp logistics hiện nay không cao, chủ yếu vẫn dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ logistics 2PL, cụ thể là dịch vụ vận tải hàng hóa.  Trong khi đó, tại Việt Nam các doanh nghiệp FDI thường tìm kiếm gói dịch vụ logistics tích hợp (phổ biến là 3PL) với nhiều dịch vụ giá trị gia tăng khác như thủ tục hải quan, lưu kho, đóng gói và phân phối sản phẩm.

logistics-bao-quan
Kho bảo quản hàng hoá của dịch vụ Logistics.

Một lực cản lớn của ngành logistics Việt Nam là cơ sở pháp lý chưa rõ ràng để phát triển dịch vụ logistics. Nhà nước cần xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý, nâng cấp cơ sở hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực cho lĩnh vực logistics. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần có biện pháp để thúc đẩy các doanh nghiệp logistics liên kết với nhau, từ đó hình thành các công ty có năng lực, đủ sức cạnh tranh với các công ty nước ngoài.

Ngành logistics Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng, nhiều cơ hội đã mở ra để các doanh nghiệp logistics trong nước phát triển, tiến đến mức ngang bằng so với các doanh nghiệp logistics trong khu vực.